1

Đất nước Việt Nam đang ở trong những ngày tháng u ám. Sự thực ấy hiện rõ trên những công trình đầy vết nứt được xây dựng bởi số tiền lớn gấp hàng chục, thậm chí hàng trăm lần giá trị thực của chúng. Sự thực ấy cũng hiện rõ trên gương mặt bi ai của những người dân miền Trung gặp thảm họa môi trường khiến họ không thể làm ăn, rồi gặp tiếp thảm họa thủy điện khiến họ không thể an cư. Và sự thực ấy còn hiện rõ trên tình hình của một trong những trụ cột sau cùng còn níu giữ được niềm tin của người lao động Việt là: Quỹ bảo hiểm xã hội Việt Nam.

 

Quỹ bảo hiểm xã hội Việt Nam – Bảo hiểm nhưng không minh bạch

Quỹ bảo hiểm xã hội (Social insurance Fund) là một hình thức bảo chứng cho sức lao động của người lao động hiện diện ở hầu khắp các quốc gia. Một khi đã đổi sức lao động của mình để lấy nguồn thu nhập cho gia đình, không ai muốn công sức mình bỏ ra phải đối diện với rủi ro. Một khi đã đánh đổi thời gian và sức lực của tuổi trẻ, dù để làm công hay làm chủ, không ai muốn mất trắng khi về già. Quỹ bảo hiểm xã hội tồn tại để đảm bảo rằng những viễn cảnh trên sẽ không xảy đến.

Ở Việt Nam, Quỹ bảo hiểm xã hội là một quỹ tiền tệ được hợp thành và duy trì bởi thu nhập của người lao động. Một phần lương của người lao động (hiện nay là 34,5% lương) sẽ trở thành phí bảo hiểm xã hội, chủ yếu để trả lương hưu, cũng như đảm bảo các khoản phụ cấp, hỗ trợ. Ở xuất phát điểm, Quỹ bảo hiểm xã hội ở Việt Nam cũng giống như ở hầu hết các nước từ Đông sang Tây.

Tuy nhiên, trong sự tương tác với đời sống nhân dân, Quỹ bảo hiểm xã hội Việt Nam đến giờ vẫn chưa đạt được một phẩm chất đã trở thành thuộc tính căn bản của Quỹ bảo hiểm xã hội của các nước dân chủ – đấy là tính minh bạch. Thực tế, ngay cả những nước dân chủ cường thịnh như Mỹ, Nhật thỉnh thoảng vẫn đối mặt với nguy cơ vỡ Quỹ bảo hiểm xã hội (ở nhà nước liên bang như Mỹ thì thường là chuyện riêng của từng bang, hầu như không thể vỡ quỹ trên toàn liên bang). Một quốc gia chỉ cần đi vào tình trạng già hóa dân số thôi là đủ để Quỹ bảo hiểm xã hội lâm nguy. Vậy nên, người dân luôn cần phải được cập nhật thông tin, không chỉ tình hình thu vào mà cả tình hình trả nợ, bởi đấy là sự bảo chứng cho công sức đóng góp cả đời của họ.

Ngay cuối năm 2014, những điều chỉnh về luật bảo hiểm xã hội đã cho thấy dấu hiệu bất thường của Quỹ bảo hiểm xã hội Việt Nam. Hậu quả đến ngay sau đó là vào đầu năm 2015, điều luật “không cho người tham gia BHXH được hưởng BHXH một lần như trước” đã khiến 9 vạn công nhân của công ty TNHH PouYuen Việt Nam đình công trong ngày 26 và ngày 27 tháng 3. Chẳng ai muốn đình công thì hành động ấy trực tiếp ảnh hưởng đến miếng cơm của gia đình họ. Nhưng họ không thể ngồi yên trước nguy cơ mất trắng công sức cả đời. (Xem bài viết

“Gần 90.000 công nhân đình công vì “không được hưởng BHXH một lần

(http://laodong.com.vn/cong-doan/gan-90000-cong-nhan-dinh-cong-vi-khong-duoc-huong-bhxh-mot-lan-309860.bld)

pou-yuen-1

 

Bây giờ đã là cuối năm 2016, nhưng người dân vẫn chưa được tiếp cận với thông tin minh bạch về Quỹ bảo hiểm xã hội. Một số nhà báo trung thực cảm thấy không thể ngồi yên trước nguy cơ dần hiện hữu, đã viết một số bài báo như “Luật BHXH sửa đổi: “Viết thế này thì vỡ hết quỹ, mất hết tiền” (http://nld.com.vn/thoi-su-trong-nuoc/luat-bhxh-sua-doi-viet-the-nay-thi-vo-het-quy-mat-het-tien-20140813120643962.htm), “Có thể vỡ Quỹ bảo hiểm xã hội sớm hơn dự báo” (http://bhxhhagiang.gov.vn/index.php/vi/news/Tin-BHXH-BHYT/Co-the-vo-quy-bao-hiem-xa-hoi-som-hon-du-bao-121/), “Vỡ Quỹ bảo hiểm, những báo động đáng sợ?” ( http://vietnamnet.vn/vn/kinh-doanh/vo-quy-bao-hiem-nhung-bao-dong-dang-so-174458.html), “Tăng tuổi nghỉ hưu để né vỡ quỹ BHXH” ( http://nld.com.vn/cong-doan/tang-tuoi-nghi-huu-de-ne-vo-quy-bhxh-20140513220742666.htm), thì lập tức bị chặn họng bởi những bài viết như “Nguy cơ vỡ quỹ BHXH” xa vời lắm!” http://nld.com.vn/cong-doan/nguy-co-vo-quy-bhxh-xa-voi-lam-20150520103707373.htm), “Không lo “vỡ quỹ” bảo hiểm xã hội” (http://baogialai.com.vn/channel/721/201610/khong-lo-vo-quy-bao-hiem-xa-hoi-2457505/). Như vậy, trong vấn đề liên quan trực tiếp đến lương hưu, người lao động lại phải đối diện với hai luồng dư luận, một bên là những nhà báo công tâm, khách quan, không muốn né tránh một kịch bản đáng sợ càng lúc càng khả thi, một bên là những người viết theo chỉ đạo của cấp trên, kiên quyết né tránh những sự thực không có lợi.

Từ góc độ kiểm tra, đối chiếu câu chữ, chúng tôi khẳng định nhóm bài viết thứ hai trong hai nhóm bài nêu trên được viết ra hoàn toàn vì mục đích trấn an dư luận, chứ không phải minh bạch hóa thông tin. Bởi vì hơn 600 chữ của bài viết “Nguy cơ vỡ quỹ BHXH” xa vời lắm!”, cũng như gần 900 chữ của bài viết “Không lo “vỡ quỹ” bảo hiểm xã hội” đều chủ yếu chỉ nói được tình trạng tiền vào chứ không nói được tình trạng tiền ra. Nếu chỉ xét trên những con số cho biết tình trạng tiền vào trong hai bài viết nêu trên, chúng ta đều dễ có ấn tượng an toàn bởi đấy đều là những con số ở mức trăm nghìn tỷ. Nhưng nếu xét đến một loạt yếu tố khác như: ngân sách thường trực ở trong tình trạng không những không góp phần được cho Quỹ bảo hiểm xã hội, mà còn khiến quỹ này phải để ngân sách vay tiền, tình hình trả nợ bảo hiểm xã hội, nợ công của quốc gia và tình hình ảm đạm của nền kinh tế; thì chúng ta đều có thể thấy rằng con số trăm nghìn tỷ kia vẫn chỉ là con số lẻ nếu so với những khoản nợ quốc gia đã đạt mức triệu tỷ.

Nói cách khác, những gì sắp xảy đến với Quỹ bảo hiểm xã hội Việt Nam hoàn toàn không khác gì những gì đã xảy đến với các sao Hollywood “kiếm bạc triệu, tiêu bạc tỷ”.

 

Không minh bạch thông tin thì làm sao quản lý?

Về căn bản, đối với người dân Việt Nam, Quỹ bảo hiểm xã hội là vấn đề bắt buộc phải được minh bạch hóa toàn diện, thì ngay từ đầu lại chìm trong bóng tối của những âm mưu và thủ đoạn. Sự thiếu minh bạch ấy đã dẫn tới một loạt những hệ lụy, hệ lụy đến sau càng nặng nề hơn hệ lụy đến trước. Giờ đây, sau gần hai năm Quỹ bảo hiểm xã hội Việt Nam xuất hiện những dấu hiệu bất thường (chưa xét đến chuyện vì thông tin về quỹ này hoàn toàn không được minh bạch, nên hai năm suy thoái ra mặt này còn là thời khắc “tràn ly” của bao nhiêu năm suy thoái ngấm ngầm trước đấy), người dân Việt Nam vẫn chưa được tiếp cận một luồng thông tin chính thống và được chuẩn hóa về tình hình của Quỹ bảo hiểm xã hội. Có ông quan thì lo vỡ quỹ, có ông quan lại khẳng định còn lâu quỹ mới vỡ, và ngay cả ông quan có phần trung thực hơn cũng không dám nói hết về tình hình chi dùng Quỹ bảo hiểm xã hội cho những mục đích không minh bạch.

Đối với những quốc gia cường thịnh, vấn đề minh bạch trong quản lý hệ thống là nền tảng của mọi nền tảng. Chưa bàn đến chuyện đấy là nguyên tắc của quốc gia dân chủ, thì nguyên tắc của việc quản lý hệ thống đã khiến việc minh bạch hóa phải bất di bất dịch. Bởi vì một hệ thống được quản lý minh bạch thì hệ thống ấy mới được duy trì bền vững, thông tin về tình hình tiền vào và tiền ra đều phải là những thông tin mà mọi người dân dễ dàng truy cập (Ở Hoa Kỳ, đến cả một du học sinh Việt Nam còn có thể dễ dàng tiếp cận thông tin để nắm chắc xem Quỹ bảo hiểm xã hội của một bang có ổn hay không). Khi anh chỉ biết mập mờ về tình hình tiền vào, và không nắm được tình hình tiền ra, thì phán đoán sai lầm là không thể tránh khỏi. Vậy nên mới có chuyện một người viết bài cho quan, được biết tình hình tiền vào và đấy là số tiền lớn, thì rất tự tin tuyên bố về sự bình ổn của Quỹ bảo hiểm xã hội, nhưng lại không biết nhiều như những người can đảm lên tiếng, rằng tình hình tiền ra không phải vì lợi ích công đáng lo thế nào.

Những bài viết như “Luật BHXH sửa đổi: “Viết thế này thì vỡ hết quỹ, mất hết tiền””, “Có thể vỡ Quỹ bảo hiểm xã hội sớm hơn dự báo”, “Vỡ Quỹ bảo hiểm, những báo động đáng sợ?”, “Tăng tuổi nghỉ hưu để né vỡ quỹ BHXH” bàn đến rất nhiều nguyên do dẫn đến tình trạng thâm hụt hiện nay của Quỹ bảo hiểm xã hội, nhưng có một nguyên do quan trọng nhất luôn hiện diện: là hiện tượng rút ruột Quỹ bảo hiểm xã hội để chi dùng cho những mục đích không những không minh bạch mà còn không sinh lời. Sự hiện diện của hai dòng “tiền đen” lớn nhất chảy ra từ Quỹ bảo hiểm xã hội – tiền chảy ngược vào ngân sách và tiền đầu tư cho những dự án lặp lại và không sinh lời – đều được khẳng định trong lời phát biểu của một chính khách Việt Nam từng nằm trong nhóm “tứ trụ”, cựu Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng (xem bài viết “Luật BHXH sửa đổi: “Viết thế này thì vỡ hết quỹ, mất hết tiền””).

Hai dòng “tiền đen” nêu trên thực chất đều để phục vụ một mục đích: rót tiền cho những hình thức đầu tư hoặc hình thức vay tiền không thể hoàn vốn. Bài viết “Nghị trường mổ xẻ 5 dự án nghìn tỷ ‘đắp chiếu’ (http://vnexpress.net/tin-tuc/thoi-su/nghi-truong-mo-xe-5-du-an-nghin-ty-dap-chieu-3493553.html) đã tóm tắt số phận của hầu hết các dự án được đầu tư trăm tỷ, nghìn tỷ, nhưng sinh lời âm trên khắp lãnh thổ Việt Nam. Vấn đề ở đây rất đơn giản: tiền không tự sinh ra hay mất đi, mà chỉ chảy từ túi người này sang túi người khác. Ở các nước dân chủ giàu mạnh, người ta tính toán, đầu tư, sử dụng tiền sao cho sau một vòng quay của tiền, tiền không bị chặn lại ở túi của một nhóm nào đấy, và trở lại túi của những người đầu tư ban đầu. Nước Nhật là một điển hình, mặc dù quốc gia này càng lúc càng phải đối mặt với gánh nặng già hóa dân số, cũng là gánh nặng của Quỹ bảo hiểm xã hội, nhưng họ biết dùng tiền cho những dự án sinh lời, vậy nên đồng tiền lưu thông liên tục và chống chịu được mọi gánh nặng nợ nần, dân số. Minh bạch hóa để quản lý chính là để dòng máu của nền kinh tế được chảy thông suốt. Còn đối với Quỹ bảo hiểm xã hội Việt Nam, tiền chảy ra dưới hình thức “tiền đen” để đầu tư nhưng không sinh lời, vậy thì chắc chắn phải dẫn tới hao hụt, đầu tư trăm tỷ thì hao hụt trăm tỷ, đầu tư nghìn tỷ thì hao hụt nghìn tỷ, số tiền đáng ra trở thành lương hưu của hàng trăm nghìn lao động thì bây giờ trở thành con số 0, không thể bù đắp được, và tạo nên gánh nặng chồng chất lên Quỹ bảo hiểm xã hội.

Hiện tại, chế độ này vẫn đang đề ra rất nhiều biện pháp để tăng thu, giảm chi cho Quỹ bảo hiểm xã hội, nổi bật nhất là chính sách tăng tuổi hưu và tăng phí bảo hiểm xã hội. Vậy nên một số người thấy rằng quỹ này vẫn có độ khả tín nhất định. Nhưng thực chất yếu tố quan trọng nhất quyết định sự tồn vong của Quỹ bảo hiểm xã hội vẫn là diễn tiến của dòng “tiền đen” làm thâm hụt quỹ này. Dòng “tiền đen” ấy vẫn sẽ tồn tại chừng nào thông tin xoay quanh Quỹ bảo hiểm xã hội Việt Nam chưa được minh bạch hóa, chừng nào những khối nợ khổng lồ, những gánh nặng ngân sách còn tồn tại và bắt buộc những hiện tượng thu, chi thất thường phải diễn ra.

Nghĩa là những kẻ đã dùng đồng tiền xương máu của dân để đánh bạc vẫn đang tiếp tục trò mạo hiểm của họ.

Hồng Long

Ngày 14 tháng 11 năm 2016

 

 

 

 

 

Advertisements