Tháng 11, 2015 chính quyền Mỹ và nhà cầm quyền Việt Nam đã ký thoả thuận “Kế Hoạch Hoa Kỳ – Việt Nam về Nâng Cao Quan Hệ Mậu Dịch và Lao Động” qua đó nhà cầm quyền Việt Nam đã hứa sửa đổi Hiến pháp và những văn bản luật và dưới luật để công nhân có quyền định đoạt vận mệnh của chính mình: thành lập nghiệp đoàn độc lập, quyền thương lượng tập thể, đình công và tiếp cận thông tin. Dưới đây là bản dịch qua tiếng Việt do Lao Động Việt thực hiện để mọi người tham khảo. Bản tiếng Anh có thể download ở đây và bản dịch tiếng Việt có thể download ở đây.

Kế Hoạch Hoa Kỳ – Việt Nam về
Nâng Cao Quan Hệ Mậu Dịch và Lao Động

Ghi chú về dịch thuật: Trong Kế Hoạch Lao Động này, phần tiếng Anh dùng 2 cụm từ khá dài cho 2 khái niệm rất khác nhau, một là “công đoàn ghi danh với Tổng Liên Đoàn Lao Động Việt Nam”, tức là trực thuộc TLĐLĐ và do đó có bổn phận phục vụ Đảng và nhà nước, và hai là “ghi danh với cơ quan hữu trách”, tức là độc lập, không thuộc TLĐLĐ. Sau lần đầu tiên dịch đầy đủ như trên thì để cho gọn, chữ “công đoàn” dùng cho những gì thuộc về TLĐLĐ, và “nghiệp đoàn độc lập” hoặc “nghiệp đoàn” cho những gì không thuộc TLĐLĐ.

Kế Hoạch này sẽ tạo ra các quyền và nghĩa vụ chỉ riêng giữa Việt Nam và Hoa Kỳ.I.

I. Dẫn nhập

Chính quyền Cộng Hòa Xã Hội Việt Nam và Hoa Kỳ:

XÁC NHẬN rằng mỗi Bên trong Chương 19 (Lao Động) đã chấp nhận các bổn phận về luật(1) và thực thi quyền lao động, kể cả liên quan đến luật lệ của mình và đến những quyền lao độngg đã ghi trong Tuyên Cáo ILO;

Phụ chú (1): Cho Kế Hoạch này, cụm từ “luật lao động” có nghĩa tà tất cả những dụng cụ có giá trị pháp lý của mỗi Bên và có liên quan đến lao động, kể cả “các luật lao động” như được định nghĩa trong Điều 19.1

NHẬN THẤY tầm quan trọng của việc phải thực thi và phải tuân thủ luật của mỗi nước;

NAY HỨA trong Kế Hoạch này những ước hẹn sau đây chiếu theo những bổn phận nói trên.

II. Cải Tổ Luật

1. Việt Nam sẽ đưa vào luật những cải tổ sau đây, bằng cách hoặc sửa đổi luật, nghị định hay quy định đang có hay ra luật, nghị định hay quy định mới, và sẽ làm mọi luật cần có sao cho toàn bộ hệ thống luật không trái ngược nhau.

2. Việt Nam sẽ đảm bảo rằng luật lệ của mình sẽ cho phép mọi người lao động thuộc một doanh nghiệp được tự do thành lập nghiệp đoàn ở doanh nghiệp mà không cần phải xin phép trước. Để ghi danh hoạt động, họ toàn quyền lựa chọn: hoặc ghi danh với Tổng Liên Đoàn Lao Động Việt Nam (TLĐLĐ), hoặc ghi danh với một cơ quan hữu trách. Nghiệp đoàn sẽ có quyền tự lập để bầu người đại diện cho họ, quyết định thông qua các tài liệu nền tảng và các nội quy, và cách tổ chức nội bộ, kể cả điều hành tài chánh và tài sản, thương lượng tập thể, và tổ chức cũng như lãnh đạo các cuộc đình công và những hành động tập thể khác liên quan đến lợi ích kinh tế xã hội của người lao động tại doanh nghiệp. Để nói rõ hơn, trong luật pháp cũng như trên thực tế, nói về quyền lao động theo Tuyên Ngôn của Tổ Chức Lao Động Quốc Tế (TCLĐQT) thì nghiệp đoàn độc lập sẽ không kém công đoàn.

A. Đảm bảo Quyền Của Người Lao Động Được Tự Do Thành Lập và Gia Nhập Nghiệp Đoàn Mà Họ Lựa Chọn

1. Trong luật cũng như trên thực tế, Việt Nam sẽ cho người lao động được quyền chọn lựa lập ra công đoàn thuộc TLĐLD hay nghiệp đoàn độc lập, và, bằng nghị định hoặc bằng những phương tiện khác, sẽ lập ra những thủ tục pháp lý và các phương tiện ghi danh cần thiết để công nhận công đoàn và nghiệp đoàn. Việt Nam sẽ đảm bảo rằng các thủ tục và phương tiện ghi danh nghiệp đoàn sẽ không trái ngược với các quyền lao động như mô tả trong Tuyên Ngôn của TCLĐQT, kể cả về tính cách trong sáng, thời gian xét đơn, điều kiện về số lượng đoàn viên trong nghiệp đoàn, đơn không cần phải được cho phép trước, và người xét đơn không được quyết định tuỳ tiện.

2. Trong luật cũng như trên thực tế, Việt Nam sẽ cho các nghiệp đoàn được quyền, nếu họ muốn, thành lập hoặc gia nhập các liên đoàn lao động, kể cả ở tầm mức nhiều doanh nghiệp, tầm mức cao hơn một doanh nghiệp, tầm mức ngành kỹ nghệ, và tầm mức địa lý, sao cho phù hợp với các quyền lao động trong Tuyên Ngôn của TCLĐQT và với thủ tục nội địa, miễn sao thủ tục đó không trái ngược với các quyền lao động vừa kể.

3. Trong luật cũng như trên thực tế, Việt Nam sẽ đảm bảo rằng:

(a) người lao động và các nghiệp đoàn độc lập có quyền yêu cầu và có quyền được nhận sự giúp đỡ kỹ thuật và đào tạo từ bất cứ tổ chức lao động nào của Việt Nam hay của thế giới miễn sao tổ chức đó có hoạt động hợp pháp ở Việt Nam; và

(b) khi được yêu cầu như trên, thì tổ chức nói trên hay đại diện của họ có quyền giúp đỡ kỹ thuật và đào tạo cho người lao động và các nghiệp đoàn đó,

để tìm hiểu về luật lao động Việt Nam, để có thể đáp ứng các điều kiện lập ra nghiệp đoàn và làm thủ tục thành lập nghiệp đoàn, để tổ chức nghiệp đoàn, để thực hiện những hoạt động nghiệp đoàn sau khi thành lập, kể cả thương lượng tập thể, đình công, và các hoạt động tập thể liên quan đến lao động trong Tuyên Ngôn của TCLĐQT.

Ghi chú về dịch thuật: Nhắc lại, “nghiệp đoàn” hoặc “nghiệp đoàn độc lập” là không thuộc TLĐLĐ, “công đoàn” là thuộc TLĐLĐ.

B. Đảm bảo rằng các nghiệp đoàn được quyền tự trị

1. Việt Nam sẽ đảm bảo rằng luật của mình sẽ không đòi các nghiệp đoàn độc lập phải tuân theo Nội Quy của TLĐLĐ, mọi nghiệp đoàn được quyền quyết định về Nội quy của mình cũng như hoạt động theo nội quy đó; được quyền thâu thập và điều hành nghiệp đoàn phí; và số tiền 2% mà người sử dụng lao động đóng thì sẽ được chia ra cho các nghiệp đoàn một cách không phân biệt đối xử. Trong luật hiện hành, các điều khoản liên quan là Luật Công Đoàn (LCĐ) Điều 4(8), Điều 6(2), Điều 26 and Điều 27.

2. Luật Việt Nam sẽ đảm bảo rằng công đoàn không được luật dành riêng đặc quyền trao đổi và hội ý với các cơ quan hữu trách; ngoài ra, luật sẽ nói rõ rằng các cơ quan hữu trách sẽ trao đổi và hội ý với cả công đoàn lẫn nghiệp đoàn. Trong luật hiện hành, các điều khoản liên quan là LCĐ Điều 10, Điều 11, Điều 12 and Điều 13.

3. Việt Nam sẽ đảm bảo rằng luật sẽ cho các nghiệp đoàn độc lập có quyền làm chủ và điều hành tài sản và bất động sản của họ. Trong luật hiện hành, các điều khoản liên quan có Điều 28 của LCĐ.

4. Vì trong Hiến Pháp Việt Nam chỉ các công đoàn thuộc TLĐLĐ mới là các “tổ chức chính trị xã hội”, do đó với các nghiệp đoàn thì luật Việt Nam sẽ không áp đặt bổn phận và trách nhiệm chính trị nào trái ngược với quyền lao động trong Tuyên Ngôn của TCLĐQT. (Ghi chú của bản dịch: Nghĩa là công đoàn thì có, còn nghiệp đoàn thì không có bổn phận phục vụ Đảng và nhà nước)

5. Việt Nam sẽ đảm bảo rằng luật sẽ không đòi hỏi một công đoàn cấp cao hơn phải giúp đỡ nghiệp đoàn để hoạt động, và luật sẽ nói rõ rằng chỉ được giúp nếu nghiệp đoàn có lời yêu cầu cụ thể. Trong luật hiện hành, các điều khoản liên quan là Luật Lao Động (LLĐ) Điều 188(1) và Điều 188(2).

C. Ai đại diện cho người lao động ở những nơi làm việc không có nghiệp đoàn

Việt Nam sẽ đảm bảo rằng luật sẽ không đòi hỏi một công đoàn cấp cao được quyền đại diện cho những người lao động nào không là thành viên nghiệp đoàn; luật sẽ nói rõ rằng một công đoàn cấp cao hơn chỉ được quyền đại diện nếu được yêu cầu, và chỉ đại diện cho những người nào có yêu cầu cụ thể. Trong luật hiện hành, các điều khoản liên quan là LLĐ Điều 188(3) và Điều 210 (2).

D. Bầu chọn ban điều hành nghiệp đoàn

Việt Nam sẽ đảm bảo rằng luật sẽ nói rõ rằng: (1) mọi người trong ban điều hành nghiệp đoàn phải do tập thể đoàn viên nghiệp đoàn đó bầu chọn; và (2) ban điều hành có quyền mướn nhân viên để nghiệp đoàn hoạt động. Trong luật hiện hành, các điều khoản liên quan là LCĐ Điều 4(4) và Điều 4(5).

E. Nhúng tay vào hoạt động của tổ chức nghiệp đoàn

1. Để bảo vệ lợi ích và quyền thương lượng tập thể của người lao động, Việt Nam sẽ đảm bảo rằng cả trong luật lẫn trên thực tế, theo quyền lao động trong Tuyên Ngôn TCLĐQT, phải phân biệt giữa người lao động và những ai phục vụ lợi ích của người sử dụng lao động, và cấm chủ nhúng tay vào các nghiệp đoàn, tuy nhiên các giám đốc và đốc công được quyền có nghiệp đoàn của họ.

2. Việt Nam sẽ sửa Điều 24 của Nghị Quyết 95/2013/ND-CP để gia tăng xử phạt nếu người sử dụng lao động phân biệt đối xử với nghiệp đoàn, hoặc nếu thương lượng không nghiêm túc, và trừng phạt đúng mức để ngăn ngừa vi phạm.

4. Các luật khác phù hợp với Thoả Ước này

Việt Nam sẽ đảm bảo rằng không có luật nào, công cụ pháp lý nào hoặc điều khoản nào trong đó, thí dụ như luật về hội, sẽ được áp dụng hoặc được sửa đổi khiến làm giảm quyền nghiệp đoàn, như quyền thành lập nghiệp đoàn, quyền thương lượng tập thể, quyền đình công, hay quyền trợ giúp các hoạt động vừa kể, như trong LLĐ, LCĐ, và các luật khác của Việt Nam liên quan đến lao động.

G. Phạm vi của các cuộc đình công

1. Việt Nam sẽ đảm bảo rằng luật sẽ cho phép người lao động được đình công về quyền chứ không chỉ về lợi ích, sao cho phù hợp với hướng dẫn của TCLĐQT. Trong luật hiện hành, các điều khoản liên quan là LLĐ Điều 215(1).

2. Việt Nam sẽ đảm bảo rằng luật sẽ nói rõ rằng để quyết định đình công thì ban điều hành nghiệp đoàn quyết định với đa số quá bán. Trong luật hiện hành, các điều khoản liên quan là LLĐ Điều 212 và Điều 213(1).

3. Một khi LLĐ đã cho các nghiệp đoàn có quyền thương lượng ở tầm mức kỹ nghệ và tầm mức xuyên doanh nghiệp thì luật sẽ đảm bảo rằng các nghiệp đoàn có quyền tổ chức đình công xuyên doanh nghiệp, miễn sao quyền này phù hợp với các thủ tục nội địa, các thủ tục đó được quyền áp dụng nếu không trái ngược với quyền lao động trong Tuyên Ngôn của TCLĐQT. Trong luật hiện hành, các điều khoản liên quan có cả LLĐ Điều 215(2).

4. Việt Nam sẽ tu chính Nghị Quyết 41/2013/ND-CP để xoá bỏ Điều 2.1.b (Ghi chú của bản dịch: Điều 2.1.b cấm đình công ở những “doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức hoặc bộ phận..Thăm dò và khai thác dầu khí; sản xuất, cung cấp khí, gas”)

5. Việt Nam sẽ tu chính Nghị Quyết 46/2013/ND-CP để xoá bỏ Điều 8.1 (Ghi chú của bản dịch: Điều 8.1 cấm đình công ở các “đơn vị cung cấp dịch vụ về điện, nước, vận tải công cộng và các dịch vụ khác trực tiếp phục vụ tổ chức mít tinh kỷ niệm ngày Chiến thắng, ngày Quốc tế lao động và ngày Quốc khánh”)

H. Lao Động cưỡng bách

1. Việt Nam sẽ ra nghị quyết để nói rõ rằng lao động cưỡng bách như viết trong LLĐ Điều 3(10) là có kể cả “lao động trói nợ”.

2. Việt Nam sẽ tu chính các điều khoản liên quan trong Luật Hình Sự (LHS) để đặt ra những trừng phạt thích đáng cho việc dùng lao động cưỡng bách.

3. Việt Nam sẽ tu chính mọi điều khoản liên quan, kể cả các công cụ pháp lý thực thi luật về ma tuý và luật xử phạt hành chính sao cho phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế, để đảm bảo rằng việc chữa trị trong các trung tâm cai nghiện ma tuý là đúng đắn về y khoa và không đặt người bị giam vô tình trạng bị cưỡng bách hoặc bắt buộc phải lao động, và để nói ai muốn đưa người nào nhập viện thì phải có giấy của toà hoặc người đó phải tự nguyện nhập viện.

I. Phân biệt đối xử

1. Việt Nam sẽ đưa ra tài liệu hướng dẫn phương cách thực thi LLĐ Điều 8 để nói rõ rằng luật cấm phân biệt đối xử dựa trên màu da, chủng tộc và nguồn gốc dân tộc.

2. Việt Nam sẽ tu chính luật để cấm phân biệt đối xử trong “mọi khía cạnh của việc sử dụng lao động”. Trong số các điều khoản liên quan trong luật hiện hành, có LLĐ Điều 8.

3. Việt Nam sẽ tu chính LLĐ Điều 160 để bảo vệ an toàn nghề nghiệp và sức khoẻ cho nữ lao động, cùng lúc thì bãi bỏ danh sách một số nghề cấm phụ nữ làm.

III. Cải tổ các cơ quan và xây dựng năng lực

Việt Nam sẽ thực thi những cải tổ cần thiết về cơ quan và sẽ xây dựng năng lực để thực hiện những luật lệ được cải tổ, kể cả: lập ra một số vai trò, thủ tục, và phương án về hành chánh; mở rộng phòng thanh tra lao động và các cơ quan về hình sự cũng như huấn luyện đầy đủ để họ hoạt động có hiệu quả khi họ đảm bảo việc thực thi đúng đắn những luật lệ được cải tổ; và cung cấp đầy đủ tài nguyên, kể cả mướn thêm nhân viên khi cần để thực thi những cải tổ đó.

A. Phòng Liên Lạc Toàn Quốc về TPP

1. Việt Nam sẽ chỉ định một phòng thích hợp để làm phòng liên lạc của mình theo Điều 19.10 (Phòng Liên Lạc) và đảm bảo cho phòng này có đủ nhân sự.

2. Việt Nam sẽ lập ra và truyền bá các thủ tục hành chánh để nhận và xét những đệ trình của dân, theo Điều 19.9 (Đệ Trình Của Dân).

B. Các hoạt động quan hệ lao tư

1. Việt Nam sẽ chỉ định Bộ Lao Động Thương Binh Xã Hội (Bộ LĐTBXH) làm cơ quan hữu năng của nhà nước và lập ra các thủ tục hành chánh thích ứng trong Bộ này và trong các Sở Lao Động Thương Binh Xã Hội (Sở LĐTBXH), nếu thích hợp, để áp dụng những cải tổ luật pháp và để đảm bảo:

(a) việc ghi danh các nghiệp đoàn, như Điều II.A của Kế Hoạch này;

(b) quyền đình công của người lao động; và

(c) thực hiện có hiệu quả việc công nhận và bảo vệ quyền thương lượng tập thể.

2. Việt Nam sẽ lập ra các cơ quan về quan hệ lao tư và các phương tiện quan hệ lao tư, các cơ quan và phương án này sẽ cung cấp các dịch vụ trung gian và hòa giải và sẽ đặt ra cũng như thực hiện các chương trình huấn luyện để giải quyết các tranh chấp giữa người lao động và người sử dụng lao động, theo như LLĐ Điều 235(4), Điều 72, các Điều 195 đến 198 và các Điều 203 đến 205.

3. Việt Nam sẽ chỉ định và huấn luyện một số lượng đầy đủ nhân sự trong Bộ LĐTBXH và các Sở LĐTBXH và các cơ quan thích hợp khác, nếu cần, để thực thi các thủ tục trong đoạn B1. và 2.

C. Khả Năng Thanh Tra Lao Động

1. Việt Nam sẽ duyệt lại các thủ tục về thanh tra và các thủ tục khác về thực thi trong cơ quan thanh tra lao động của Bộ LĐTBXH và các Sở LĐTBXH để đảm bảo việc thực thi một cách có hiệu quả các điều khoản mới của luật và để huấn luyện mọi nhân sự hữu trách trong Bộ LĐTBXH và các Sở LĐTBXH về luật mới và thủ tục mới.

2. Trong Bộ LĐTBXH và các Sở LĐTBXH, Việt Nam sẽ lập ra và thực thi một phương án có hiệu quả về khiếu nại để người lao động có thể thông báo đến nhà nước một cách kín đáo và ẩn danh về những phạm luật, trong đó ít nhất là thủ tục chuyển lời khiếu nại đến thanh tra lao động để theo dõi; để viết báo cáo về những cuộc thanh tra và điều tra tiếp theo và theo đuổi tiến trình của các cuộc thanh tra và điều tra, kể cả hiện thời tình trạng cuộc thanh tra và điều tra đã tới đâu, những vi phạm nào đã được tìm thấy, các món phạt tiền, các trừng phạt, và việc khắc phục sự vi phạm đã tới đâu.

3. Việt Nam sẽ dành ra đầy đủ tài nguyên cần thiết để Bộ LĐTBXH và các Sở LĐTBXH đảm bảo sự thực thi luật lao động, kể cả 750-800 thanh tra lao động thường trực cho Bộ LĐTBXH trước cuối năm 2016 và 1200 trước cuối năm 2020, tăng lên so với số 500 hiện nay.

D. Thực Thi Các Thủ Tục

Việt Nam sẽ đặt ra và thực thi các thủ tục, nếu cần, và sẽ huấn luyện những nhân sự liên quan ở cấp địa phương hoặc cấp toàn quốc có trách nhiệm về thực hành luật hình sự và luật dân sự, cả về những luật và thủ tục được cải tổ để đảm bảo việc thực thi các hoạt động liên quan đến nghiệp đoàn được viết trong LLĐ, LCĐ, lẫn các luật Việt Nam khác có liên quan đến lao động, và lẫn về truy tố hình sự những ai sử dụng lao động cưỡng bách.

E. Lao Động Cưỡng Bách và Lao Động Trẻ Em

1. Nhận thấy rằng Việt Nam đã công bố kết quả Cuộc Điều Tra Toàn Quốc Về Lao Động Trẻ Em, kể cả kết quả và phương pháp điều tra, vậy Việt Nam sẽ:

(a) Đặt ra và thực thi một chiến lược để việc thanh tra và các hoạt động trừng phạt khác sẽ nhắm đến những kỹ nghệ nào đã được biết là có dùng lao động cưỡng bách và lao động trẻ em như đã được nêu lên trong các cuộc điều tra như vừa kể, kể cả đến thanh tra những nơi làm việc không chính thức và những nhà thầu phụ trong kỹ nghệ may mặc.

(b) Cho phép những chuyên gia độc lập đang hoạt động hợp pháp ở Việt Nam để họ thực hiện các cuộc nghiên cứu về các kỹ nghệ nào đã được biết là có dùng lao động cưỡng bách và lao động trẻ em và để họ công bố kết quả của họ, dữ liệu họ dùng, và phương pháp nghiên cứu của họ.

2. Việt Nam sẽ hành động, qua Bộ LĐTBXH và các bộ sở liên quan khác, để đảm bảo rằng việc chữa trị trong các trung tâm cai nghiện ma tuý là đúng đắn về y khoa theo tiêu chuẩn quốc tế, đòi hỏi rằng việc việc nhập viện của người dùng ma tuý là tự nguyện hoặc dựa trên quyết định của toà án, và không đặt người bị giam vô tình trạng bị cưỡng bách hoặc bắt buộc lao động, kể cả lập ra và thực thi phương án để các chuyên gia kỹ thuật được thường xuyên theo dõi và báo cáo trên công luận.

IV. Trong Sáng và Chia Sẻ Thông Tin

A. Thông Tin Về Ngân Sách

Việt Nam sẽ công bố ngân sách hàng năm của Bộ LĐTBXH. Một phần trong đó là, đến mức có thể làm trên thực tế, những thông tin phân loại về phân chia ngân sách thế nào và số nhân viên đảm bảo thực thi Kế Hoạch này.

B. Dân Đóng Góp Ý Kiến

1. Thể theo các thủ tục hiện nay của mình, Việt Nam sẽ để cho dân đóng góp ý kiến về những tu chính luật lệ phát sinh từ những ước hẹn trong Kế Hoạch này.

2. Sau khi các công cụ pháp lý được phát hành, Việt Nam sẽ đưa lên trang mạng của Bộ LĐTBXH hoặc các cơ quan hữu trách khác, thể theo các thủ tục hiện nay của mình.

3. Suốt trong 10 năm từ ngày Hiệp Định Đối Tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP) giữa Hoa Kỳ và Việt Nam bắt đầu hiệu lực, mỗi 6 tháng Việt Nam sẽ công bố những điều sau đây:

(a) Thông tin chi tiết về tình trạng hiện thời và kết quả cuối cùng của những đơn ghi danh nghiệp đoàn, kẻ cả thông tin về xét đơn tốn bao lâu và nếu bác đơn thì vì lý do gì, cũng như thông tin chi tiết về các thỏa ước thương lượng tập thể đã ký kết và con số các cuộc đình công.

(b) Thống kê bao nhiêu cuộc thanh tra và cuộc điều tra bởi Bộ LĐTBXH và các Sở LĐTBXH, các con số này chia ra từng vùng địa lý, từng kỹ nghệ, và từng quyền lao động được thế giới công nhận như liệt kê trong Điều 19.1 (Định Nghĩa), cũng như thống kê về kết quả của các cuộc thanh tra và điều tra, kể cả những vi phạm đã tìm ra, các phạt tiền và các trừng phạt đã đưa ra, và việc khắc phục ra sao.

C. Hợp Tác

Việt Nam và Hoa Kỳ dự định sẽ hợp tác trên căn bản thiện chí để đặt ra các cải tổ liên quan và các công cụ pháp lý cần có để thực thi Kế Hoạch này.

D. Vươn Ra Để Thông Tin và Chỉ Dẫn

Việt Nam sẽ khởi đầu một chương trình vươn ra để tìm đến người lao động, người sử dụng lao động, và những thành phần liên quan khác để thông tin và chỉ dẫn về quyền và trách nhiệm của họ dưới luật lao động, kể cả các luật lệ mới được tu chính theo Kế Hoạch này, và về các thủ tục hành chánh thực thi, cũng như các cách khắc phục và các hành động mà người ta có thể dùng để đảm bảo là quyền của mình thực sự được tôn trọng.

V. Duyệt

Hoa Kỳ và Việt Nam sẽ thường xuyên đánh giá tiến triển của việc thực thi Kế Hoạch này, kể cả coi lại để biết việc thực hiện và áp dụng các luật, nghị định, và quy định được tu chính, và việc cải tổ các cơ quan, đã tới đâu; và, để đạt mục đích này, thỏa thuận làm những hành động sau đây:

A. Các Phương Án Giữa Chính Quyền Với Chính Quyền

Ủy Ban Các Viên Chức Cao Cấp

1. Hoa Kỳ và Việt Nam nơi đây thành lập ra một Ủy Ban Các Viên Chức Cao Cấp (UBCVCCC) song phương thường trực gồm có các viên chức cao cấp của Phòng Mậu Dịch Hoa Kỳ và Bộ Lao Động cho phía Hoa Kỳ và của Bộ Công Thương và Bộ Lao Động Thương Binh Xã Hội cho phía Việt Nam để theo dõi, đánh giá, và tạo điều kiện cho việc nhanh chóng đáp ứng với các quan tâm về tuân thủ và thực thi những cải tổ luật và cải tổ cơ quan dưới Kế Hoạch này. Hoa Kỳ và Việt Nam sẽ chỉ định các viên chức cao cấp vào vai trò này trước khi Hiệp Định TPP giữa Hoa Kỳ và Việt Nam bắt đầu có hiệu lực và nhanh chóng cho Bên kia biết nếu sau đó có gì thay đổi. Mỗi năm trong 10 năm từ ngày Hiệp Định TPP giữa Hoa Kỳ và Việt Nam bắt đầu có hiệu lực, UBCVCC sẽ họp hàng năm bằng cách gặp mặt hoặc bất cứ phương tiện kỹ thuật nào. Các thành viên trong UBCVCCC sẽ được hỗ trợ bởi các viên chức ở cấp kỹ thuật, họ sẽ gặp nhau mỗi nửa năm trong suốt 10 năm. Sau khi hết 10 năm, nếu Việt Nam hoặc Hoa Kỳ yêu cầu thì sau đó UBCVCCC sẽ tiếp tục gặp gỡ hàng năm hoặc như đôi bên thỏa thuận. UBCVCCC sẽ bàn luận và xét đến những báo cáo hoặc đề nghị đến từ Chương Trình Trợ Giúp Kỹ Thuật (CTTGKT) và Ủy Ban Chuyên Gia Lao Động (UBCGLĐ) được lập ra bởi các đoạn dưới đây. Khi Việt Nam hoặc Hoa Kỳ yêu cầu thì trong vòng 30 ngày sau đó UBCVCCC sẽ họp để quyết định về hành động cần có để giải quyết các quan ngại nếu có về việc tuân thủ hoặc thực thi những cải tổ luật và cải tổ cơ quan dưới Kế Hoạch này. Việt Nam và Hoa Kỳ có thể cùng nhau yêu cầu Tổ Chức Lao Động Quốc Tế (TCLĐQT) duyệt xét và báo cáo về bất cứ quan ngại nào trên đây, để làm căn bản thông tin cho các cuộc thảo luận của UBCVCCC và cho việc quyết định về hành động cần có để giải quyết các quan ngại.

Xét Duyệt Song Phương

2. Ở cấp Bộ Trưởng hoặc do Bộ Trưởng chỉ định, Hoa Kỳ và Việt Nam sẽ, trong những năm thứ ba, thứ năm, và thứ mười từ ngày Hiệp Định TPP giữa Hoa Kỳ và Việt Nam bắt đầu có hiệu lực, duyệt xét và đánh giá việc thực thi Kế Hoạch này, kể cả việc thực thi các cải tổ luật và cơ quan trong Kế Hoạch, dựa trên những bổn phận trong Chương 19 (Labour). Khi thực hiện việc duyệt xét này, Hoa Kỳ và Việt Nam sẽ xét đến những gì UBCVCCC đề nghị. Nếu lúc kết thúc cuộc duyệt xét mà Hoa Kỳ còn tiếp tục quan ngại về việc tuân thủ của Việt Nam, thì Hoa Kỳ và Việt Nam sẽ cứu xét lấy hành động tương xứng dưới Hiệp Định TPP.

B. Các Phương Án Phụ Trợ

1. Để phụ trợ các duyệt xét lập ra trên đây, Hoa Kỳ và Việt Nam đồng ý sẽ làm những hành động sau đây.

Chương Trình Hỗ Trợ Kỹ Thuật

2. Việt Nam, với sự hỗ trợ của Hoa Kỳ, sẽ yêu cầu lập ra một Chương Trình Hỗ Trợ Kỹ Thuật (CTHTKT) của TCLĐQT tại Việt Nam để liên tục và thường xuyên hỗ trợ Việt Nam trong việc tạo điều kiện để thực thi các cải tổ luật và cơ quan mô tả trong Kế Hoạch này. Hai năm sau ngày Hiệp Định TPP giữa Hoa Kỳ và Việt Nam bắt đầu có hiệu lực, CTHTKT sẽ đưa ra một bản báo cáo đến công chúng, và từ đó trở đi cứ 6 tháng 1 lần, bản báo cáo chứa các thông tin và dữ kiện thích hợp để đánh giá về việc thực thi, kể cả thực tế về quan hệ lao tư tại Việt Nam. Bản báo cáo có thể đưa ra những đề xuất để cải tiến việc thực thi. Việt Nam sẽ xét đến những đề xuất này của CTHTKT.

Ủy Ban Chuyên Gia Lao Động

3. Hoa Kỳ và Việt Nam nơi đây thành lập Ủy Ban Chuyên Gia Lao Động (UBCGLĐ) gồm có 3 thành viên. Trong vòng 30 ngày từ khi Hiệp Định TPP giữa Hoa Kỳ và Việt Nam bắt đầu có hiệu lực, Hoa Kỳ và Việt Nam sẽ thỏa thuận ai làm Chủ Tịch, người đó có thể là một đại diện của TCLĐQT hoặc là một cá nhân nào khác có kỹ năng chuyên môn về tiêu chuẩn lao động quốc tế và khách quan, không thiên vị, và độc lập đối với mỗi Bên. Trong vòng 60 ngày từ khi Hiệp Định TPP giữa Hoa Kỳ và Việt Nam bắt đầu có hiệu lực, Hoa Kỳ và Việt Nam mỗi bên sẽ chỉ định một thành viên là người không liên quan đến hay nhận chỉ thị từ chính quyền Hoa Kỳ hay Việt Nam, là người có kỹ năng chuyên môn về tiêu chuẩn lao động quốc tế. UBCGLĐ sẽ đưa ra một bản báo cáo đến công chúng để duyệt xét về dữ kiện thực tế, kể cả thông tin và dữ liệu về các đề tài trong Điều II, III, và IV, kể cả IV.B.3, của Kế Hoạch này liên quan đến việc Việt Nam áp dụng và thực thi các cải tổ luật pháp và cơ quan dưới Kế Hoạch này, kể cả mọi khó khăn hay quan ngại. Các bản báo cáo này sẽ được công bố vào hai năm rưỡi, bốn năm rưỡi, sáu năm rưỡi, và tám năm rưỡi sau ngày Hiệp Định TPP giữa Hoa Kỳ và Việt Nam bắt đầu có hiệu lực . Trong các bản báo cáo đó, UBCGLĐ cũng sẽ đưa ra những lời đề nghị liên quan đến những quan ngại đến việc Việt Nam áp dụng và thực thi các cải tổ luật pháp và cơ quan dưới Kế Hoạch này. Sau đó, những cuộc xét duyệt và các bản báo cáo sẽ được tiếp tục mỗi 5 năm nếu Việt Nam hay Hoa Kỳ đề nghị. Trong các cuộc duyệt xét của mình, UBCGLĐ sẽ xét đến các báo cáo và đề nghị của UBCVCCC, kể cả Việt Nam đã thực thi các đề nghị của UBCVCCC không. UBCGLĐ có thể yêu cầu Việt Nam cung cấp thông tin để ủy ban có thể làm ra các bản báo cáo đúng thời hạn. Việt Nam sẽ cộng tác với UBCGLĐ và sẽ cung cấp mọi thông tin đến mức có thể làm trên thực tế. UBCGLDĐ sẽ mời gọi mọi người ở Hoa Kỳ và Việt Nam nào muốn để đệ trình quan điểm đến ủy ban và, chiếu theo Điều 19.9 (Dân Đệ Trình), ủy ban sẽ cứu xét thông tin từ bất cứ bản đệ trình nào của dân chúng.

VI. Hỗ Trợ Kỹ Thuật

Việt Nam và Hoa Kỳ sẽ nỗ lực để có được tài trợ cho chương trình trợ giúp hầu trực tiếp tạo điều kiện để thực thi các cải tổ luật pháp và cơ quan dưới Kế Hoạch này. Việt Nam sẽ yêu cầu TCLĐQT giúp trong việc thực hiện đó và sẽ cố gắng thương thuyết thành công một hiệp ước với TCLĐQT cho mục đích này. Việt Nam sẽ thực thi các đề nghị mà TCLĐQT đưa ra trong sự giúp đỡ này. Việt Nam và Hoa Kỳ sẽ nỗ lực làm việc với các Bên TPP nào khác có ý muốn để phụ trợ các chương trình hỗ trợ kỹ thuật liên quan đến việc thực thi các cải tổ luật pháp và cơ quan dưới Kế Hoạch này.

VII. Thực Thi

1. Việt Nam sẽ làm thành luật các cải tổ luật pháp và cơ quan theo Phần II và III dưới Kế Hoạch này trước ngày Hiệp Định TPP giữa Hoa Kỳ và Việt Nam bắt đầu có hiệu lực, trừ những điểm mà Kế Hoạch này ghi khác.

2. Việt Nam sẽ tuân thủ đoạn II.A.2 của Kế Hoạch này trễ nhất là năm năm sau ngày Hiệp Định TPP giữa Hoa Kỳ và Việt Nam bắt đầu có hiệu lực.

3. Kế Hoạch này sẽ nằm trong phạm vi của việc hội ý theo Điều 19.15 (Hội Ý Về Lao Động) của Chương Lao Động, riêng về đoạn 2 và 3 thì điều kiện đòi hỏi mỗi bên phải chuyển lời yêu cầu và trả lời đến các Bên TPP khác sẽ không áp dụng; và đoạn 4 sẽ không áp dụng.

4. Kế Hoạch này sẽ nằm trong phạm vi của việc giải quyết tranh chấp theo Chương 28 (Giải Quyết Tranh Chấp) của Hiệp Định TPP, riêng Điều 28.13 (Bên Thứ Ba Tham Gia) thì không áp dụng.

5. Chương 29 (Các Ngoại Lệ Tổng Quát) sẽ cũng có áp dụng với Kế Hoạch này.

VIII. Duyệt Xét Việc Thực Thi

1. Hoa Kỳ sẽ duyệt xét việc thi hành đoạn II.A.2 của Kế Hoạch này 5 năm sau ngày Hiệp Định TPP giữa Hoa Kỳ và Việt Nam bắt đầu có hiệu lực.

2. Nếu, sau cuộc duyệt xét trong đoạn 1 của Điều này và trong thời hạn bẩy năm sau ngày Hiệp Định TPP giữa Hoa Kỳ và Việt Nam bắt đầu có hiệu lực, mà Hoa Kỳ cho rằng Việt Nam đã không tuân thủ theo đoạn II.A.2 của Kế Hoạch này, thì Hoa Kỳ sẽ viết để thông báo cho Việt Nam về kết luận đó. Trong vòng 30 ngày sau khi nhận được thông báo vừa kể, Việt Nam có thể viết lời yêu cầu để có buổi họp về vấn đề này.

3. Trong vòng 30 ngày sau khi nhận được yêu cầu, Hoa Kỳ sẽ đồng ý gặp ViệNam để bàn luận về vấn đề này. Nếu Việt Nam không đưa ra lời yêu cầu như trong đoạn 2 của Điều này, hoặc nếu trong vòng 60 ngày sau khi nhận được yêu cầu theo đoạn 2 của Điều này mà Hoa Kỳ và Việt Nam không đồng ý rằng Việt Nam đã tuân thủ với đoạn II.A.2 của Kế Hoạch này thì Hoa Kỳ có quyền không giảm hoặc ngưng giảm những thuế nhập cảng nào được lên lịch để có hiệu quả sau đó.

4. Nếu Hoa Kỳ không giảm hoặc ngưng giảm các thuế nhập cảng theo đoạn 3 của Điều này và Việt Nam cho rằng mình có tuân thủ với đoạn II.A.2 của Kế Hoạch này thì Việt Nam có quyền dùng thủ tục giải quyết tranh chấp theo Chương 28 (Giải Quyết Tranh Chấp), trừ khi Kế Hoạch này viết khác đi. Ngoài ra, cho mục đích của đoạn này thì lời yêu cầu của Việt Nam để lập ra một ban giải quyết theo Điều 28.7 sẽ chỉ riêng về vấn đề Việt Nam có tuân thủ với đoạn II.A.2 không mà thôi.

5. Nếu trong bản báo cáo cuối cùng của mình, Hoa Kỳ kết luận rằng Việt Nam đã có tuân thủ với đoạn II.A.2 của Kế Hoạch này, Hoa Kỳ sẽ lập tức áp dụng mức thuế nhập cảng trong danh sách thuế của Hoa Kỳ nào đáng lẽ đã được áp dụng nếu Hoa Kỳ không có hành động theo đoạn 3 của Điều này.

6. Nếu theo đoạn 3 của Điều này Hoa Kỳ không giảm hoặc ngưng giảm những thuế nhập cảng nào và sau đó Hoa Kỳ và Việt Nam đồng ý rằng Việt Nam có tuân thủ với đoạn II.A.2 của Kế Hoạch này, Hoa Kỳ sẽ lập tức áp dụng mức thuế nhập cảng trong danh sách thuế của Hoa Kỳ nào đáng lẽ đã được áp dụng nếu Hoa Kỳ không có hành động theo đoạn 3 của Điều này.

– Hết –